QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN

Nền kinh tế suy giảm, việc kinh doanh gặp khó khăn, vay nợ, mượn tài sản, mua bán hàng hóa không trả tiền, vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng là những chuyện xảy ra phổ biến trong cuộc sống. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu và thực hiện được việc bảo vệ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Pháp luật. Khi tranh chấp, mâu thuẫn mà các bên không tự giải quyết được, tòa án sẽ là lựa chọn cuối cùng. Khi đó, quyền khởi kiện và thực hiện sẽ được đặt ra.

Quy định pháp luật về quyền khởi kiện

Theo quy định tại Điều 4 của Bộ luật Tố tụng Dân sự về Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”.

Và quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng Dân sự về Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự:

“1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó;

2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấp dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.”

Ý nghĩa của quy định về quyền khởi kiện

Đây là sự công nhận, bảo hộ của Pháp luật đối với những yêu cầu được bảo vệ quyền lợi ích đáng cho mình của các cá nhân, tổ chức mà còn cho thấy sự công bằng, nghiêm minh của Pháp luật khi quy định việc một người nếu thấy quyền và lợi ích hợp pháp của người khác bị xâm phạm cũng có thể yêu cầu Tòa án và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi cho người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Tuy nhiên, việc thực hiện quyền khởi kiện của đương sự không phải lúc nào cũng suôn sẻ vì việc chứng minh, thu thập chứng cứ về yêu cầu khởi kiện có nhiều trường hợp khó có thể tự người khởi kiện thực hiện được.

Điều 6 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự:

“1. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp;

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự;

2. Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.”

Lưu ý khi thực hiện quyền khởi kiện

Như vậy, mặc dù việc khởi kiện là quyền cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại nhưng đồng thời người khởi kiện cũng phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Nhiều chứng cứ thực tế người khởi kiện, yêu cầu tòa án giải quyết không lưu giữ hoặc không thể tự thu thập được đã khiến việc khởi kiện trở lên rất khó khăn và mất thời gian. Pháp luật có quy định việc yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ nhưng chỉ trong một số trường hợp nhất định.

Trên đây là một số nội dung quy định về quyền khởi kiện của các cá nhân, tổ chức tại Bộ luật Dân sự, nếu có vấn đề cần làm rõ, quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua số điện thoại 1900.6227 hoặc số Hotline 0906.238.583

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.